Thứ bảy, ngày 16, tháng 11, năm 2019

Nội dung tin bài

Đề cương tuyên truyền Kỷ niệm 89 năm Ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng; 20 năm Ngày Dân vận của cả nước; 70 năm tác phẩm “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh; 10 năm phong trào thi đua “Dân vận khéo”

Gửi lúc 14/10/2019 10:26:30 SA

I. 89 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA ĐẢNG VÀ 20 NĂM NGÀY DÂN VẬN CỦA CẢ NƯỚC

1. Sự ra đời và ý nghĩa của ngày 15/10

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, từ ngày 14 đến ngày 31-10/1930, tại Hương Cảng, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất đã thông qua Luận cương Chính trị, Điều lệ Đảng và các Án nghị quyết về: Công nhân vận động, Nông dân vận động, Cộng sản Thanh niên vận động, Phụ nữ vận động, Quân đội vận, Vấn đề cứu tế và Hội phản đế đồng minh. Trong Nghị quyết của Trung ương chỉ rõ: "Trong các Đảng bộ, (từ Thành ủy và Tỉnh ủy) phải tổ chức ra các Ban chuyên môn về giới vận động". Từ tháng 10/1930, hệ thống Ban chuyên môn về các giới vận động của Đảng bao gồm: công vận, nông vận, thanh vận, phụ vận, quân đội vận, Mặt trận phản đế được ra đời làm nhiệm vụ tổ chức, tập hợp lực lượng, giáo dục, vận động quần chúng nhân dân tham gia các phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

          Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nước nhà giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo “Dân vận” đăng trên Báo Sự thật số ra ngày 15/10/1949. Nội dung bài báo được coi là “Cương lĩnh công tác dân vận” của Đảng. Chính vì vậy, vào tháng 10/1999, nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài báo “Dân vận” và trên cơ sở sự ra đời của hệ thống Ban chuyên môn về các giới vận động của Đảng, theo đề nghị của Ban Dân vận Trung ương, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã đồng ý lấy ngày 15/10/1930 là ngày truyền thống công tác Dân vận của Đảng và quyết định lấy ngày 15/10 hằng năm là “Ngày Dân vận của cả nước” để cùng nhau học tập và thực hiện những lời Bác Hồ dạy về công tác dân vận.

Xuất phát từ nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, Đảng gắn bó máu thịt với nhân dân đã trở thành một truyền thống tốt đẹp và là nguồn sức mạnh của Đảng ta từ ngày thành lập đến nay. Đảng ta luôn xác định: Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta trong điều kiện hội nhập quốc tế càng đòi hỏi phải phát huy cao độ khối đoàn kết và sức mạnh toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện thành công công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2. Những chặng đường lịch sử công tác dân vận của Đảng

2.1. Công tác dân vận trong thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945)

Ngay sau khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam nhanh chóng tổ chức ra các đoàn thể cách mạng, hình thành bộ máy và cán bộ làm công tác dân vận. Xuất phát từ tình hình thực tế của nước ta lúc bấy giờ là nước thuộc địa nửa phong kiến, lại là nước nông nghiệp lạc hậu, để thực hiện mục tiêu cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng đã tổ chức cho các đảng viên đi vào các giai cấp, tầng lớp nhân dân, tuyên truyền vận động, tổ chức và tập hợp quần chúng nhân dân, huấn luyện họ đấu tranh chống áp bức, bất công, bóc lột đòi dân sinh, dân chủ ở khắp mọi nơi. Những cán bộ, đảng viên lớp đầu tiên của Đảng đã không quản gian lao, thực hiện chủ trương "vô sản hóa", tiến hành "ba cùng" với dân, tuyên truyền, giác ngộ nhân dân lao động và thành lập các tổ chức quần chúng đoàn kết xung quanh Đảng, tạo sức mạnh và động lực cho cách mạng theo tư tưởng của Bác Hồ: "Đem sức ta mà giải phóng cho ta. Sau cao trào cách mạng (1930-1931), đến thời kỳ Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936-1939), phong trào Phản đế (1939-1941) và phong trào Mặt trận Việt Minh (1941-1945), Đảng ta chủ chương mở rộng chính sách đại đoàn kết toàn dân và công tác Mặt trận. Quần chúng được tập hợp qua các hình thức đấu tranh công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp. Đảng đã tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân, bao gồm nhân sĩ, trí thức, tư sản dân tộc và cả ngoại kiều… đây thực sự là bước phát triển mới trong việc xây dựng lực lượng chính trị quần chúng.

Đứng trước tình hình thế giới và trong nước có những biến động lớn, Đảng ta đề ra chủ trương phát động cao trào quần chúng chống Nhật - Pháp, gấp rút tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền; với khí thế của cả dân tộc bằng bạo lực chính trị, kết hợp với lực lượng vũ trang toàn dân đã đứng lên làm Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 2/9/1945. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám đã chứng minh đường lối cách mạng của Đảng là đúng đắn; đó cũng là thắng lợi của nghệ thuật vận động quần chúng; Đảng biết dựa vào dân, tin ở dân, gắn bó với dân, tuyên truyền giác ngộ nhân dân, tổ chức tập hợp và hướng dẫn quần chúng nhân dân đấu tranh giành chính quyền.

2.2. Công tác dân vận trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc (1945 - 1975)

Trong suốt 30 năm liên tục (1945-1975) của hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, bằng niềm tin và sức mạnh toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác dân vận đã góp phần tuyên truyền, vận động, tổ chức những phong trào cách mạng rộng lớn, động viên sức người, sức của, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc, nhân dân ta viết nên những trang sử hào hùng.

Trong những năm kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Đảng ta đã tổ chức, rèn luyện và hình thành một đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận luôn gắn bó máu thịt với nhân dân ở khắp mọi miền của đất nước. Nhiều cán bộ, chiến sĩ đã chịu đựng hy sinh gian khổ, kiên cường bám dân để thực hiện xuất sắc nhiệm vụ Đảng giao cho. Nhân dân tin tưởng và che chở cho cán bộ khi bị địch truy lùng, chăm sóc chạy chữa khi đau yếu, móc nối khi mất liên lạc và đùm bọc, chia ngọt sẻ bùi như con em trong gia đình. Trong những năm tháng đó, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, các phong trào "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", "Năm xung phong"... đã rầm rộ phát triển, tạo nên bầu nhiệt huyết cách mạng sôi động trong nhân dân cả nước, tất cả vì sự nghiệp độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Công tác dân vận đã góp phần củng cố niềm tin tuyệt đối của nhân dân đối với Đảng, Bác Hồ với tấm lòng son sắt và thủy chung, không gì lay chuyển được.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là thắng lợi của đường lối mở rộng đại đoàn kết toàn dân tộc vì sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. Đó là sự thành công của việc xây dựng lực lượng chính trị ngày càng rộng rãi trong mặt trận và các đoàn thể, trong lực lượng vũ trang theo tư tưởng Hồ Chí Minh; “Vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân..."; phát huy tới mức cao nhất về lực lượng, trí tuệ và của cải tạo thành sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

2.3. Công tác dân vận trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN

Khi cả nước bước vào thời kỳ mới, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đứng trước những thuận lợi và khó khăn mới, Đảng ta động viên nhân dân cả nước nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành công cuộc đổi mới, đưa đất nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, công tác dân vận đã hướng vào vận động các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia các phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ thống chính trị, đã đóng góp quan trọng vào các thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của đất nước trên tất cả các lĩnh vực.

Trong giai đoạn này, công tác dân vận của Đảng càng được khẳng định rõ nét cả về lý luận và thực tiễn. Nghị quyết Đại hội VI của Đảng đã quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”; phải đặc biệt chăm lo củng cố mối liên hệ giữa Đảng với nhân dân. Nghị quyết 08B của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) về “Đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”. Đây là sự tổng kết có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc về công tác vận động quần chúng của Đảng. Nghị quyết 08B nêu lên 4 quan điểm chỉ đạo công tác quần chúng của Đảng, đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, bốn quan điểm này còn mang tính chiến lược đối với công tác dân vận của Đảng trong những giai đoạn tiếp theo của cách mạng, đó là: (1) Cách mạng là sự nghiệp của dân, do dân và vì dân; (2) Động lực thúc đẩy phong trào quần chúng là đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân và kết hợp hài hoà các lợi ích, thống nhất quyền lợi và nghĩa vụ công dân; (3) Các hình thức tập hợp nhân dân phải đa dạng; (4) Công tác quần chúng là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân.

Tại Đại hội VII, Đảng ta xác định phải xây dựng cơ chế để thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII, ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Sau đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI đã ban hành Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 về thực hiện Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn, Chính phủ ra các nghị định thực hiện Quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở. Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 18/2000/CT-TTg về tăng cường công tác dân vận trong các cơ quan nhà nước...

Đứng trước yêu cầu nhiệm vụ công tác vận động quần chúng trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) đã ban hành các nghị quyết về: “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, vì dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; “về Công tác dân tộc”; về “Công tác tôn giáo”. Nghị quyết Trung ương 7 khóa IX đã cụ thể hoá một bước quan điểm, tư tưởng Đại hội IX của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với nội dung và chất lượng mới, chỉ đạo công tác vận động quần chúng trong thời kỳ mới.

Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã xác định quan điểm về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc: “Đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức; trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu”.

Bộ Chính trị khóa X đã ra Quyết định số 290-QĐ/TW, ngày 25/02/2010 về việc ban hành "Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị" một lần nữa khẳng định: “Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta; là điều kiện quan trọng  bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng và củng cố, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân”; đồng thời, xác định rõ trách nhiệm lãnh đạo và thực hiện công tác dân vận của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của mọi cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên; cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong thực hiện công tác dân vận. Có thể nói, đây là văn bản đầu tiên của Đảng có tính chế định về chế độ trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác dân vận trong hệ thống chính trị nước ta.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) ban hành Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 03/6/2013 về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” xác định mục tiêu: Củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nội dung Nghị quyết là những nhận thức mới về công tác dân vận và các nhiệm vụ, giải pháp đặt ra có tính chất đột phá, khả thi trong tổ chức thực hiện, trong đó nhấn mạnh: Phương thức lãnh đạo công tác dân vận của Đảng phải gắn liền với công tác xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh và phân vai, gắn trách nhiệm rất rõ: Đảng lãnh đạo, chính quyền tổ chức thực hiện, Mặt trận, đoàn thể làm tham mưu và nòng cốt trong thực hiện công tác dân vận.

Sau đó, ngày 12/12/2013, Bộ Chính trị ban hành 2 quyết định quan trọng: Quyết định số 217-QĐ/TW về việc ban hành "Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội"; Quyết định số 218-QĐ/TW về ban hành "Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền" là bước đột phá mới về phát huy dân chủ nhằm không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân”. Cụ thể hóa Nghị quyết XII của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị về công tác dân vận và liên quan đến công tác dân vận, điển hình là: Ban Bí thư ban hành Kết luận số 43-KL/TW, ngày 07/01/2019 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW khóa XI về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20/10/2015 về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”; Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 16/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về “Tăng cường và đổi mới công tác dân vận trong cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp trong tình hình mới”…

          Trong giai đoạn này, công tác dân vận tiếp tục được đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả, đi vào chiều sâu, chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng - Nhà nước với nhân dân, tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp: Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động về công tác dân vận của các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị, nhất là của các cấp ủy đảng, chính quyền và người đứng đầu các cấp; Tăng cường thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng liên quan đến công tác dân vận, cuộc sống của nhân dân; tăng cường công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, nhất là trong giải quyết các vấn đề liên quan đến người dân; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội theo hướng thiết thực, cụ thể, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chú trọng công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài. Đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước trong các tầng lớp nhân dân, trong đó có phong trào thi đua “Dân vận khéo”; Phát huy dân chủ, nhất là vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

II. KỶ NIỆM 70 NĂM TÁC PHẨM “DÂN VẬN” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

1. Hoàn cảnh ra đời tác phẩm

Ngày 15/10/1949, trên báo Sự Thật, số 120 đã đăng bài báo “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh (với bút danh X.Y.Z). Bài báo ra đời trong thời điểm công cuộc kháng chiến, kiến quốc của dân tộc ta có những chuyển biến mới, đòi hỏi công tác vận động quần chúng của Đảng phải được chú trọng, tăng cường hơn nữa trong nhận thức và hành động nhằm động viên tối đa sức người, sức của cho kháng chiến, kiến quốc.

2. Giá trị lý luận và thực tiễn của tác phẩm

- Tác phẩm rất ngắn gọn với dung lượng hơn 600 chữ, được thể hiện bằng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với quần chúng; văn phong súc tích, có tính khái quát cao; kết cấu mạch lạc, chặt chẽ, dễ nhớ, dễ thuộc và dễ làm theo. Nội dung gồm 4 phần: Nước ta là nước dân chủ; Dân vận là gì? Ai phụ trách dân vận? Dân vận phải thế nào?

-  Tác phẩm có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, là “cương lĩnh dân vận” của Đảng Cộng sản Việt Nam, là “kim chỉ nam” về công tác dân vận trong mọi giai đoạn cách mạng, nêu rõ về bản chất, vai trò, nhiệm vụ, trách nhiệm thực hiện công tác dân vận, phương pháp, quy trình dân vận, tác phong người cán bộ dân vận.

- Thể hiện sâu sắc tư tưởng trọng dân, tin dân, luôn gần gũi với nhân dân để thấu hiểu dân tình, chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, thực hành dân chủ, phát huy sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

- Là cở sở lý luận để Đảng, Nhà nước ta đề ra các chủ trương, chính sách về công tác dân vận nói riêng, công tác xây dựng Đảng nói chung; là cẩm nang cho các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị nghiên cứu, học tập, thực hiện tốt công tác dân vận, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay.

- Là tác phẩm tiêu biểu để mỗi tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể, mỗi cá nhân cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, công chức, viên chức, cán bộ, chiên sỹ lực lượng vũ trang nghiên cứu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

III. KẾT QUẢ 10 NĂM THỰC HIỆN PHONG TRÀO THI ĐUA “DÂN VẬN KHÉO”

1. Mục đích, ý nghĩa phát động Phong trào thi đua “Dân vận khéo”

- Năm 1999, nhân kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ viết bài báo “Dân vận”, Bộ Chính trị đã quyết định lấy ngày 15/10 hằng năm là “Ngày Dân vận của cả nước”. Ngày 11/8/2000, Thường vụ Bộ Chính trị ban hành Công văn số 4626-CV/VPTW về việc chỉ đạo tổ chức thực hiện “Ngày Dân vận của cả nước”. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thường vụ Bộ Chính trị, ngày 22/8/2000, Ban Dân vận Trung ương đã triển khai Kế hoạch số 03-KH/BDVTW “Về việc tiến hành Ngày Dân vận của cả nước và Kỷ niệm 70 năm truyền thống công tác Dân vận của Đảng” với các nội dung, hình thức và phương pháp “Dân vận khéo” theo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Năm 2009, trên cơ sở tổng kết thực tiễn các mô hình, điển hình “Dân vận khéo” đã được xây dựng, tiếp tục mở rộng hình thức vận động quần chúng nhân dân, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác dân vận của Ðảng, Ban Dân vận Trung ương chính thức phát động phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong cả nước bằng Kế hoạch số 70-KH/BDVTW, ngày 26/02/2009 về việc Tổ chức phong trào thi đua “Dân vận khéo” (giai đoạn 2009-2010) và Hướng dẫn số 151-HD/BDVTW, ngày 27/4/2009 về Tiêu chí cơ bản đánh giá điển hình “Dân vận khéo”.

2. Kết quả thực hiện

Từ năm 2009 đến năm 2018, sau gần 10 năm thực hiện, các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã ban hành 2.754 văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, quy chế, quy định, hướng dẫn phong trào thi đua “Dân vận khéo”. Phong trào ngày càng lan tỏa mạnh mẽ trên phạm vi cả nước, ở các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Giai đoạn 2009-2010, cả nước đã xuất hiện hơn 200 nghìn mô hình, điển hình “Dân vận khéo”, đến năm 2015 đã có hơn 400 nghìn mô hình, điển hình, trong đó có 279 điển hình xuất sắc tiêu biểu trên các lĩnh vực được tôn vinh, biểu dương, khen thưởng tại Đại hội Thi đua yêu nước ngành Dân vận. Đến nay đã xây dựng được trên 863.000 mô hình, điển hình “Dân vận khéo” trên cả nước.

- Trên lĩnh vực kinh tế, là lĩnh vực có nhiều mô hình, điển hình “Dân vận khéo” nhất. Tiêu biểu là trong sản xuất kinh doanh, nhất là ở địa bàn nông thôn như: chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; xây dựng trang trại, phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ... nhằm phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, khuyến khích sản xuất, kinh doanh giỏi, làm giàu chính đáng. Phong trào đã đi vào các lĩnh vực mới, đòi hỏi ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao, có hiệu quả kinh tế và phạm vi tác động rộng, liên danh, liên kết, trao đổi, giúp đỡ, hỗ trợ kỹ thuật, vốn, kinh nghiệm, kết hợp hài hòa giữa lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân với lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp.

Đặc biệt, phong trào “Dân vận khéo” đã gắn với thực hiện 2 Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững, mang lại những động lực mới, phát huy mọi nguồn lực của xã hội, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn, cải thiện cuộc sống người dân.

Trên lĩnh vực văn hoá - xã hội, qua thực hiện phong trào và các mô hình, điển hình “Dân vận khéo” đã tạo đồng thuận cao trong xây dựng đời sống văn hoá mới; xoá bỏ được nhiều tập tục lạc hậu, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, bảo đảm an sinh xã hội, các hoạt động xã hội từ thiện, góp phần tích cực vào sự phát triển của đơn vị, địa phương, đất nước, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

- Trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh, với nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả đã nắm chắc tình hình nhân dân, xây dựng lực lượng cốt cán, kịp thời đề xuất xử lý có hiệu quả các vụ việc phức tạp ở cơ sở; khơi dậy truyền thống yêu nước, phát huy tinh thần trách nhiệm, quyền làm chủ của nhân dân trong chấp hành tốt các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; cùng cấp ủy, chính quyền đối thoại, hòa giải nhiều vụ việc phức tạp tại cơ sở; cung cấp nhiều nguồn tin có giá trị; tham gia đấu tranh giải quyết, làm thất bại mọi âm mưu và các thủ đoạn của các thế lực thù địch, từng bước đẩy lùi tội phạm, tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh và cuộc sống bình yên của nhân dân.

Trên lĩnh vực xây dựng hệ thống chính trị, các mô hình, điển hình “Dân vận khéo” gắn với việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; vận động nhân dân tham gia giám sát, phản biện, xây dựng chính sách, pháp luật, phản ánh kiến nghị của cử tri. Cơ quan hành chính nhà nước xây dựng mô hình “Dân vận khéo” gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đạo đức công vụ, tăng cường tiếp dân, đối thoại, giải quyết những vấn đề bức xúc, phức tạp trong nhân dân... Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới, hướng về cơ sở, chăm lo lợi ích hợp pháp, chính đáng, phát huy quyền làm chủ của đoàn viên, hội viên và nhân dân; tổ chức tốt các mô hình tự quản trong cộng đồng dân cư; thực hiện tốt hương ước, quy ước gắn với các phong trào thi đua, các cuộc vận động.

IV.  KẾT QUẢ CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA HUYỆN PHÙ CỪ

Đối với huyện nhà, Công tác vận động quần chúng được khởi đầu do những người giác ngộ cách mạng sớm được tiếp xúc với tài liệu, báo chí cách mạng đã tuyên truyền, vận động người thân, bạn bè làm cho ngày càng nhiều người nhận rõ nguyên nhân cảnh đói khổ, lầm than của nhân dân lao động ngay tại quê hương mình. Từ đó khơi dậy tinh thần yêu nước, ý thức giác ngộ cách mạng, giác ngộ giai cấp. Và muốn thoát khỏi cảnh áp bức bất công đó, phải làm cách mạng, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp. Đến đầu tháng 2 năm 1940 chi bộ Quế Ải được thành lập, gồm 03 đồng chí, do đồng chí Lý Anh làm Bí thư. Đây là chi bộ Đảng cộng sản đầu tiên ở Phù Cừ. Có tổ chức Đảng lãnh đạo, công tác dân vận của huyện phát triển và lan toả ra nhiều nơi do các đảng viên của chi bộ và những người được đảng viên, chi bộ giác ngộ vận động tuyên truyền, thức tỉnh lòng yêu nước của quần chúng nhân dân, sẵn sàng đi theo cách mạng. Ngày 15/8/1943 chi bộ thứ 2 được thành lập tại khóm tre "Thánh Gióng" trên cánh đồng Hầm thôn Đông Cáp, do đồng chí Kim Quang thay mặt Ban cán sự Đảng Hưng Yên chủ trì hội nghị. Sự ra đời của chi bộ Đại Duy- Đông Cáp là chi bộ thứ 2 của huyện Phù Cừ. Chi bộ có nhiệm vụ phát triển và tổ chức lực lượng Việt Minh toàn huyện chuẩn bị cho cao trào kháng Nhật cứu nước.

Phong trào cách mạng ở tỉnh nói chung và huyện Phù Cừ nói riêng có bước tiến mới. Công tác dân vận của Đảng ngày càng được phát triển sâu rộng trong các tầng lớp quần chúng, dưới ngọn cờ của "Mặt trận Việt Minh". Mặc dù bị địch khủng bố, đàn áp dã man, nhưng phong trào cách mạng vẫn được giữ vững và phát triển ở hầu khắp các địa phương trong huyện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng đã tổ chức đấu tranh không những chỉ đòi quyền dân sinh, dân chủ và quyền lợi kinh tế đơn thuần mà còn phát triển lên thành các cuộc diễu hành, mít tinh, biểu tình mang tính chất chính trị sâu sắc; đây cũng là cuộc tập dượt biểu dương lực lượng và đã góp phần quan trọng cùng cả nước tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8/1945. Đến ngày 14/8/1945 huyện nhà giành được chính quyền. Là huyện giành chính quyền sớm nhất tỉnh. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện nhà thắng lợi, trước hết do sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương. Song một bài học kinh nghiệm được rút ra là: Thông qua công tác dân vận của Đảng, "Dựa vào sức mạnh quần chúng nhân dân để xây dựng cơ sở cách mạng, xây dựng căn cứ phát triển lực lượng là nhân tố thắng lợi của khởi nghĩa giành chính quyền".

Cách mạng tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng vừa ra đời thì thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Việt Nam. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ, quân và dân Phù Cừ vẫn một lòng một dạ hướng về Trung ương Đảng, Hồ Chủ tịch, Chính phủ, xiết chặt đội ngũ, đứng lên chiến đấu mở đầu một giai đoạn mới- giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Nhiệm vụ công tác dân vận lúc này là tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm, vận động thanh niên hăng hái tòng quân giết giặc, tham gia du kích chiến đấu bảo vệ xóm làng. Những năm 1951- 1954 công tác dân vận tập trung vận động nhân dân ủng hộ kháng chiến, phối hợp với du kích phá tề, trừ gian; nhân dân đấu tranh đòi giảm tô, giảm tức, cùng cả nước chi viện sức người, sức của cho chiến dịch Điện Biên Phủ, góp phần làm lên chiến thắng lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu, buộc thực dân pháp phải ký hiệp định Giơnevơ lập lại hoà bình ở Đông Dương.

Trong thời kỳ xây dựng CNXH ở miền Bắc, chi viện miền Nam, công tác dân vận của huyện nhà đã tập trung vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng về khắc phục hậu quả chiến tranh để lại, cải tạo các thành phần kinh tế, xây dựng HTX nông nghiệp và HTX tiểu thủ công nghiệp. Vận động nhân dân thực hiện khẩu hiệu hành động “Mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt". Nhờ đó mà toàn tỉnh đã dấy lên nhiều phong trào mạnh mẽ "tay cày tay súng" "Tay búa tay súng", "Thanh niên ba sẵn sàng", "Phụ nữ ba đảm đang", "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người". Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, tập trung cao nhất sức người sức của chi viện cho miền Nam, góp phần cùng cả nước đánh bại chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Qua hơn 20 năm huyện Phù Cừ được tái lập, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, song dưới sự lãnh đạo của BCH Đảng bộ huyện, những năm qua công tác dân vận của huyện luôn được các cấp uỷ đảng quan tâm, đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành tuyên truyền vận động nhân dân phát huy truyền thống yêu nước, truyền thống cách mạng, lòng tự hào về quê hương Phù Cừ văn hiến, hiếu học. Thấy hết những thuận lợi khó khăn, của một huyện thuần nông, điểm xuất phát về kinh tế còn thấp, song phải phấn đấu vươn lên, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, khai thác mọi nguồn lực, các lợi thế, tranh thủ các nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hoá để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh quốc phòng.

 Ban Dân vận Huyện ủy và khối dân vận cơ sở tích cực tham mưu lãnh đạo, chỉ đạo và huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở thực hiện công tác dân vận; lãnh đạo đội ngũ cán bộ làm dân vận sâu sát cơ sở, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, kịp thời phản ánh, đề xuất giải pháp giải quyết những vấn đề liên quan tới lợi ích chính đáng của nhân dân với cấp ủy, chính quyền cùng cấp. Tham mưu phát huy vai trò của đội ngũ bí thư chi bộ, trưởng thôn,  trưởng ban công tác mặt trận các thôn, đặc biệt là vai trò đầu tầu gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, ý kiến phản hồi của nhân dân về những chủ trương, chính sách, các nhiệm vụ, kế hoạch từ huyện đến cơ sở; cũng từ đó đã phát huy kênh giám sát và phản biện xã hội của nhân dân thông qua đội ngũ cán bộ cơ sở.  

Kết quả thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo”

 + Về lĩnh vực phát triển kinh tế:

            Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XXIV, nhiệm kỳ 2010- 2015 đã ban hành 7 chương trình, 2 đề án; Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XXV, nhiệm kỳ 2015- 2020 đã ban hành 6 chương trình, 3 đề án về phát triển kinh tế- xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và nhiều chương trình, kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc, nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh; các chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy. Coi trọng lãnh đạo, thực hiện công tác Dân vận, nhất là thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” trên các lĩnh vực. Nhiều mô hình “Dân vận khéo” triển khai có hiệu quả được nhân ra diện rộng như phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới với phương châm “Làm cho dân hiểu, dân tin, dân hưởng ứng”. Mô hình “vận động nhân dân hiến đất làm đường GTNT và dồn thửa đổi ruộng” được cán bộ đảng viên và nhân dân đồng lòng hưởng ứng, nhiều mô hình “Xây dựng cánh đồng mẫu lớn”, gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã mang lại hiệu quả cao, đã góp phần quan trọng vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng NTM” trên địa bàn huyện đạt kết quả to lớn, đến tháng 7/2019, toàn huyện có 13/13 xã được công nhận xã nông thôn mới; huyện đã đạt 7/9 tiêu chí, phấn đấu hoàn thành các tiêu chí huyện nông thôn mới năm 2019. Tổng kết 10 năm thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng NTM” toàn huyện đã  huy động trên 3.023 tỷ đồng để đầu tư cho chương trình, trong đó nhân dân tự nguyện đóng góp là 1.748,763 tỷ đồng đạt 57,8%. Xây dựng mới, nâng cấp, đưa vào sử dụng 182,9km đường giao thông nông thôn; hệ thống thủy lợi được quan tâm đầu tư nâng cấp, cải tạo, tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp được tưới, tiêu chủ động đạt trên 95%; hệ thống lưới điện được đầu tư đồng bộ, 100% số hộ dân trên địa bàn được sử dụng điện sinh hoạt an toàn, bảo đảm chất lượng; tỷ lệ phòng học kiên cố, cao tàng của các nhà trường đạt cao, đã có 28/45 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia; tỷ lệ hộ gia đình có nhà ở đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Xây dựng đạt trên 90%, không còn nhà tạm, nhà dột nát, trong đó có 278 nhà ở được hỗ trợ xây mới, sửa chữa theo chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng và người nghèo; đến năm 2018, thu nhập bình quân đầu người đạt 47,4 triệu đồng, tăng 30 triệu đồng so với năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,75%; hàng năm tạo việc làm mới cho trên 1,5 nghìn lao động, giai đoạn 2011- 2019 đào tạo nghề ngắn hạn cho gần 6 nghìn lao động, trong đó trên 90% số lao động sau đào tạo có việc làm thường xuyên; đến năm 2015 huyện đã hoàn thành công tác dồn thửa đổi ruộng đất nông nghiệp, bình quân đạt 1,38 thửa/hộ; tốc độ tăng trưởng nông nghiệp bình quân hàng năm đạt 4,5%- 5%; giá trị thu nhập bình quân/ha canh tác tăm 2018 đạt 165 triệu đồng. Trên địa bàn huyện, hiện có 147 doanh nghiệp, 5.637 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động; tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cá thể là 16.628 người.

+ Về lĩnh vực Văn hóa -xã hội

Lãnh đạo thực hiện tốt phong trào thi đua ”Dân vận khéo” trên các lĩnh vực văn hóa- xã hội đã thu hút nhiều thành phần lứa tuổi tham gia có tính xã hội hóa cao như phong trào thi đua "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" và thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội. Toàn huyện có 54/54 làng văn hóa đạt 100%, trên 90% cơ quan, đơn vị đạt danh hiệu văn hóa, tỷ lệ gia đình văn hóa đạt trên 95%. Công tác thông tin, tuyên truyền không ngừng được đổi mới, nâng cao chất lượng, tập trung vào các sự kiện, nhiệm vụ chính trị của địa phương. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao chào mừng kỷ niệm các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị quan trọng diễn ra sôi nổi. Thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 2,75%. Các chế độ chính sách đối với người có công, đối tượng chính sách xã hội được thực hiện kịp thời, đúng đối tượng. Phát động, xây dựng và sử dụng hiệu quả các loại quỹ nhân đạo từ thiện. Các phong trào thi đua trong ngành giáo dục được đẩy mạnh; các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá học sinh được chỉ đạo, quán triệt thực hiện đồng bộ và thực hiện hiệu quả. Công tác chăm lo nâng cao chất lượng giáo dục, xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền từ huyện đến cơ sở quan tâm. Tính đến hết tháng 6/2019, toàn huyện có 28/45 trường đạt chuẩn quốc gia (THPT 01 trường, THCS 10 trường, Tiểu học 12 trường, Mầm non 05 trường).

+ Về lĩnh vực quốc phòng- an ninh

 Phong trào thi đua “Dân vận khéo” trên lĩnh vực an ninh quốc phòng tiếp tục được triển khai với nhiều cách làm hay, sáng tạo, phong phú đạt hiệu quả cao. Thông qua phong trào “Dân vận khéo” đã góp phần giải quyết nhiều mâu thuẫn, bức xúc trong nhân dân, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường mối quan hệ quân- dân, tạo điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, chăm lo đời sống nhân dân. Quản lý chặt chẽ, chủ động nắm tình hình an ninh trên các lĩnh vực, mục tiêu, địa bàn trọng điểm, kịp thời tham mưu cấp uỷ, chính quyền trong việc xử lý, không để hình thành điểm nóng, mâu thuẫn khiếu kiện. Công tác đảm bảo an ninh trật tự, đặc biệt trong các ngày lễ, ngày kỷ niệm và các hoạt động chính trị của địa phương được chú trọng và thực hiện tốt. Quản lý và giám sát chặt chẽ công tác tôn giáo và hoạt động của người nước ngoài đến địa bàn. Công nhận 12 xã, 14 cơ quan, 10 doanh nghiệp, 04 nhà trường đạt tiêu chuẩn “An toàn về an ninh, trật tự”. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến Pháp luật trên các phương tiện truyền thông; tổ chức tập huấn, giáo dục pháp luật. Thường xuyên củng cố và duy trì hiệu quả hoạt động của các Tổ hòa giải ở cơ sở.

Thực hiện phương châm “Dân vận khéo” trong cán bộ chiến sỹ lực lượng vũ trang, sâu sát cơ sở, dựa vào nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, phát động nhân dân tham gia xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, duy trì thực hiện nghiêm chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, sẵn sàng tham gia phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai. Xây dựng, kiện toàn lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên; thực hiện tốt kế hoạch giáo dục quốc phòng và huấn luyện cho các đối tượng. Hoàn thành chỉ tiêu tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, giao quân đạt 100%, đảm bảo chất lượng, sau giao quân không phải bù đổi. Tổ chức diễn tập chiến đấu phòng thủ cụm xã và diễn tập khu vực phòng thủ huyện đạt kết quả cao, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội. Các mô hình đã góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo, tăng cường quốc phòng an ninh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 + Về lĩnh vực xây dựng hệ thống chính trị

 Ban Thường vụ Huyện ủy thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo, xác định phong trào thi đua “Dân vận khéo” là nhiệm vụ chính trị xuyên suốt, gắn với thực hiện các phong trào thi đua của địa phương, đơn vị, tạo chuyển biến tích cực, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền ngày càng vững mạnh. Triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức các hội nghị, nâng cao ý thức trách nhiệm, kỷ cương, hiệu quả công tác nhất là người đứng đầu; cụ thể hoá việc học tập thành các phong trào, cuộc vận động thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị. Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện ban hành Kế hoạch số 36- KH/HU ngày 18/4/2018 về thực hiện một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Công tác phát triển đảng viên được quan tâm thực hiện. Hoạt động của HĐND và chất lượng đại biểu HĐND ngày càng được nâng cao, các đại biểu phát huy vai trò trách nhiệm của mình trước cử tri và nhân dân. UBND chỉ đạo làm tốt vai trò tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, công tác giải quyết thủ tục hành chính theo cơ chế “một cửa” có nhiều chuyển biến tích cực. Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cấp xã ngày càng được quan tâm, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của địa phương. Các mô hình tiêu biểu như: “Công chức bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa tại cơ quan hành chính các cấp;”Dân vận khéo trong xây dựng hệ thống chính trị”. Các phong trào thi đua “Dân vận khéo” từ huyện đến cơ sở đã góp phần quan trọng củng cố hệ thống chính trị của địa phương, từ đó niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng ngày càng được nâng cao.

Kết quả xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình “Dân vận khéo”

 Tổng kết 10 năm phong trào thi đua “Dân vận khéo” giai đoạn 2009- 2019, toàn huyện đã xây dựng và duy trì thực hiện tốt 219 mô hình, điển hình “Dân vận khéo trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó tiêu biểu là phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng Nông thôn mới” đã lan tỏa rộng khắp. Trong 10 năm, toàn huyện có hàng trăm tập thể, cá nhân được Trung ương, tỉnh, huyện; các cấp ban, sở, ngành khen thưởng. Tổng kết 10 năm phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng Nông thôn mới”, có 25 tập thể và 51 hộ gia đình, cá nhân có thành tích tiêu biểu được khen thưởng. Các điển hình tiêu biểu như: Phong trào thi đua “3 xây 2 có” của Hội CCB huyện đã đạt kết quả thiết thực; Mô hình tuyên truyền vận động hội viên gương mẫu cùng nhân dân hiến đất xây dựng nông thôn mới, xây dựng đô thị văn minh điển hình là Hội CCB xã (Tam Đa, thị trấn Trần Cao, Tống Phan, Nhật Quang); Phong trào “Nông dân thi đua SXKDG, đoàn kết giúp nhau làm giàu và giảm nghèo bền vững”; Cuộc vận  động “Toàn dân đoàn kết xây dựng NTM, đô thị văn minh’’; Phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” gắn với cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo” đối với CĐCS khối các trường học; Phong trào thi đua "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" trong nữ CNVCLĐ; phong trào thi đua "Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc" và 2 Cuộc vận động: "Rèn luyện phẩm chất đạo đức: Tự tin - Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang”; "Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch". CLB Gia đình hạnh phúc” tại xã Quang Hưng, Nguyên Hòa, “CLB Phòng, chống bạo lực gia đình” tại 07 xã: Tống Phan, Minh Tiến, Đoàn Đào, Tống Trân, Tam Đa, Đình Cao, thị trấn Trần Cao,“CLB gia đình phát triển bền vững” tại xã Tiên Tiến. Mô hình “tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia phòng chống ma túy, quản lý, giáo dục người nghiện ma túy trong cộng đồng dân cư” của công an huyện; Mô hình “giáo dục con em trong gia đình không vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội”; Mô hình “dòng họ tự quản về an ninh trật tự” tại các thôn, khu phố. Mô hình cổng trường an toàn tại 09 trường học; CLB thanh niên phát triển kinh tế tại xã Phan Sào Nam (gồm hơn 50 thành viên); CLB thanh niên trồng cây ăn quả tại xã Tam Đa (50 thành viên); HTX dịch vụ nông nghiệp Thắng Lợi về cây vải lai chín sớm; HTX dịch vụ thủy sản Hưng Phát tại xã Quang Hưng. HTX An Thịnh Phát “Trồng dưa nhà lưới” xã Tống Trân…Các phong trào VHVN- TDTT thu hút đông đảo hội viên và nhân dân tham gia, có 54 câu lạc bộ văn nghệ của Hội NCT và Hội Phụ nữ ở 54 thôn; Hội NCT có 138 CLB, trong đó CLB văn nghệ có 36, thơ có 11, bóng chuyền hơi 33, dưỡng sinh 38, YOGA có 4… Hội Phụ nữ phối hợp với các ngành đoàn thể từ huyện đến cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động và hỗ trợ các hộ gia đình tích cực thực hiện mô hình phân loại, xử lý rác thải hữu cơ (đến nay có 12.513 hộ tham gia thực hiện, đạt tỷ lệ 49,1% tổng số hộ toàn huyện). Các mô hình “Dân vận khéo” đã có sức lan tỏa trong cộng đồng, góp phần đổi mới, nang cao hiệu quả công tác dân vận, thực hiện tốt các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, xây dựng NTM trên địa bàn huyện.

 Một số nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới

- Tăng cường tham mưu cho cấp ủy đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện hiệu quả hơn phong trào thi đua “Dân vận khéo”.  Hướng dẫn xây dựng mô hình, điển hình; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, định kỳ sơ kết, tổng kết, khen thưởng kịp thời và có giải pháp để nhân rộng điển hình.

- Tiếp tục nâng cao nhận thức về công tác dân vận, về phong trào thi đua “Dân vận khéo”; tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng phong trào gắn với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.

- Xác định nội dung trọng tâm phong trào thi đua “Dân vận khéo” phù hợp với điều kiện từng địa phương, từng đối tượng. Chú trọng 2 Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững, gắn các phong trào thi đua của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII.

- Xây dựng, phát triển mô hình, điển hình trong phát triển kinh tế xã hội và xây dựng nông thôn mới, phối hợp trong giải quyết các điểm nóng phức tạp, bức xúc nổi cộm, trong cải cách hành chính, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân./.

 

                                                    BAN DÂN VẬN HUYỆN ỦY PHÙ CỪ

 ( 3,0 / 0 )
Chưa có ý kiến nào. Bạn hãy là người đầu tiên gửi ý kiến cho bài viết này.
Bộ gõ tiếng việt:
            Gửi ý kiến Xóa form
Cảm ơn bạn đã gửi ý kiến!
Chúng tôi sẽ sớm xem xét ý kiến của bạn một cách nhanh nhất khi chúng tôi có thời gian!
Bài gần đây Quay lại | Lên đầu trang
Bài cùng chuyên mục
Xem thêm...

Bản đồ hành chính

Lịch công tác

Liên kết

Video - Clip

Liên kết website cấp trên

Liên kết ứng dụng

Thời tiết

 22oC
Độ ẩm: 94%
Tốc độ gió: 9 km/hkm/h
Cập nhật lúc 03:00:00
ngày 2019-11-16

Tổng số lượt truy cập